Category Archives: Hyper-V

What’s new in Windows Server 2012 for Hyper-V Based Cloud Computing (Phần 8): Networking

Một vài tính năng networking trong Windows Server 2012 có thể trở nên quan trọng khi triển khai Multi-tenant (đa người dùng) cho private cloud và public cloud, điển hình như tính năng về hiệu suất (performance). Cho dù triển khai workload mới hay migrating những workload đã tồn tại trong hạ tầng cloud, cũng đòi hỏi phải nhanh và luôn chạy trong cloud mà không cần phải cấu hình lại mạng lưới mạng. Trong môi trường cloud, cũng cần phải có sự cô lập mạng lưới mạng cho máy ảo của doanh nghiệp và cá nhân. Hạ tầng cloud còn đòi hỏi hỗ trợ nhiều mảng công nghệ mạng khác nhau, mở rộng hiệu suất hoạt động, thích ứng tốt với những thay đổi về tài nguyên. Cuối cùng, hạ tầng cloud cũng phải cung cấp công cụ quản trị tích hợp với mô hình hoạt động lớn, phục vụ cho mô hình hoạt động linh hoạt và có khả năng mở rộng cao. Windows Server 2012 giải quyết hết tất cả các vấn đề này, nó cho phép tạo ra hạ tần điện toán đám mây động và linh hoạt về hiệu suất, phục vụ cho tất cả các mô hình triển khai của doanh nghiệp.

Network Virtualization

Một lời hứa hẹn của hạ tầng cloud là sự nhanh chóng và dễ dàng khi triển khai một workload mới hoặc migrate các workload đang chạy trên server vật lý hoặc một hạ tầng cloud khác. Sẽ không có gì là thách thức khi triển khai một workload mới, câu chuyện của chúng ta chính là việc di chuyển một workload đã tồng tại trên server vật lý hoặc máy ảo từ hạ tầng cloud khác. Windows Server 2012 giải quyết vấn đề đó bằng công nghệ ảo hóa mạng (Network Virtualizition).

Network Virtualizition cung cấp một bảng ánh xạ (mapping) ở cấp độ hypervisor giữa địa chỉ mang được gán cho máy ảo (Customer Address) và địa chỉ được gán cho host (Provider Address) cái được sử dụng để định tuyến các gói tin trong mạng vật lý.

Có hai cơ chế ảo hóa mạng được hổ trợ trong Windows Server 2012 là:  Giao thức Generic Routing Encapsulation (GRE) và IP Rewrite. Trên host nguồn, GRE đóng gói IT từ VM chứa nguồn và đích CA với header mới, [header mới] được sử dụng bới nguồn và đích PA để khởi động chức năng định tuyến gói tin thông qua mạng vật lý. Header của GRE có chứa trường khóa chính hoặc Virtual Subnet ID, cái này cho phép nhiều VM chạy trên cùng một máy ảo chia sẽ chung một địa chỉ IP. Điều này cũng giống như việc sử dụng VLAN Tag để cách ly lưu lượng mạng. Virtual Subnet ID đại diện bởi một định danh 24bits. Ở các host đích, Virtual Subnet ID kết hợp với PA được sử dụng để chuyển các gói tin đến máy ảo mục tiêu.

Hạn chế duy nhất của GRE là mạng vật lý phải hỗ trợ GRE, nếu không giao thức này sẽ không thể hoạt động. Trong trường hợp Host và mạng vật lý không hổ trợ GRE thì chúng ta có một lựa chọn khác chính là IP Rewrite. Trong kiểu [IP Rewrite] này, các CA nguồn và đích được thay thế bằng một PA thích hơp dựa trên Mapping Table. Tuy nhiên, mỗi CA phải liên kết với một PA duy nhất, điều này lại phủ nhận lợi thế của việc chia sẽ một PA cho nhiều máy ảo.

Networking Technologies

Sau khi đã có thể dễ dàng triển khai workload trên hạ tầng cloud, đến sự cần thiết phải mang đến khả năng mở rộng, độ sẵn sàng cao, hiệu suất tính toán, lưu trữ và hiệu suất mạng. Windows Server 2012 tạo ra một mạng hiệu suất cao cho hạ tầng cloud thông qua các giao thức và công chổng tắc nghẽn (congestion), chất lượng dịch vụ (QoS), giảm tải mạng (offload).

Trong Windows Server 2012, Datacenter TCP (DCTCP) giúp quản lý các tắc nghẽn lưu lượng mạng mà không cần các thiết bị chuyển mạch đắt tiền. Thay vào đó DCTCP thực thi một ECN (Explicit Congestion Notification) được tạo ra bởi các switch để phát hiện ra các tắt nghẽn mạng và phản ứng với các dòng chảy bằng cách điều tiết lưu lượng. Windows Server 2012 thông minh hơn, cho phép DCTCP có độ trễ thấp, liên kết mạng nhanh hơn với thời gian xoay vòng giảm đáng kể. Ở cấp độ Apdapter, Windows Server 2012 cung cấp Datacenter Bridging (DCB) giải quyết vấn đề tắt nghẽn bằng cách dụng quy tắc dự trữ băng thông dựa trên từng loại traffic. Ngoài ra, Windows Server 2012 chống tắc nghẽn tại các hàng đợi bằng cách giảm tải truyền dữ liệu thông qua bộ nhớ trực tiếp truy cập từ xa (Remote Direct Memory Access). RDMA liên quan đến việc ghi dữ liệu trực tiếp cho adapter mạng trong đó có qua xử lý của việc chuyển giao dữ liệu, giảm tải việc sử dụng CPU máy chủ.

Một trong những công nghệ giảm tải mạng được tìm thấy trong Windows Server 2012 là Single Root I/O Virtualization (SR-IOV). SR-IOV cho phép các mạng dữ liệu chuyển trực tiếp giữa các máy ảo và các adapter mạng, giảm việc sử dụng CPU máy chủ, và tăng thông lượng mạng thông qua độ trễ thấp hơn. SR-IOV yêu cầu host và card mạng cũng như phần cứng xử lý phải hỗ trợ ảo hóa. Một trong những hạn chế khi sử sụng SR-IOV là nó sẽ bị loại trừ ra khỏi nhóm trong NIC Teaming với lý do đơn giãn là mạng dữ liệu sử dụng SR-IOV thông qua một swtich ảo, switch ảo này cũng chịu trách nhiệm quản lý NIC Teaming.

Một công nghệ giảm tải mạng khác là Receive Segment Coalescing (RSC). RSC tập hợp các gói tin nhỏ trên mạng trong một chu kỳ thành gói tin lớn có kích thước tối đa 64KB. Điều này giúp giảm thiểu các xử lý header mà máy chủ phải thực hiện. Receive Side Scaling (RSS) cho phép các bộ adapter mạng xử lý mạng trên nhiều bộ xử lý khác nhau chứ không riêng một processor. Trong Windows Server 2012, RSS tăng cường khả năng hỗ trợ cho lưu lượng non-TCP, khả năng mở rộng tốt hơn trên bộ nhớ không đồng bộ (Non-Uniform Memory Access) và  tối ưu hóa để hỗ trợ các máy chủ với hơn 64 bộ vi xử lý để đạt được cấu hình khả năng mở rộng cao. Cuối cùng, Hàng đợi máy ảo động (Dynamic Queues Virtual Machine) cho phép các bộ apdapter mạng tạo ra hàng đợi mạng ảo cho mỗi máy ảo trên một máy chủ, cũng được nâng cao để hỗ trợ chuyển giao hàng đợi có sẵn dựa trên các yêu cầu về lưu lượng khi thay đổi mạng lưới các máy ảo.

NIC Teaming

Windows Server 2012 cung cấp một tính năng NIC Teaming là nhà cung cấp độc lập và hỗ trợ lên đến 32 adapter mạng. NIC Teaming sử dụng các mô hình khác nhau của các adapter mạng từ các nhà cung cấp khác nhau, tập hợp băng thông và cấu hình chuyển đổi dự phòng và không giới hạn các interface ảo. NIC Teaming hỗ trợ chuyển đổi độc lập và chuyển chế độ phụ thuộc (static teaming or dynamic teaming with Link Access Control Protocol). Khi NIC Teaming được cấu hình để phân phối tập hợp băng thông tải, trên các nhóm NIC được thực hiện bằng cách sử dụng một hash địa chỉ (IP address and TCP port number), hoặc bằng cách xác định một cổng Hyper-V để đảm bảo rằng lưu lượng truy cập mạng cho một dòng VM thông qua một adapter mạng cụ thể.

PowerShell Network Management

Windows Server 2012 không chỉ cung cấp giao diện đồ họa để quản lý mạng, mà còn hỗ trợ command line để quản lý thông qua PowerShell 3.0 và WMIv2.  Sử dụng PowerShell 3.0, tất cả các khía cạnh của quản lý Windows Server 2012 đểu có thể được tự động. Windows Server 2012 bao gồm hơn 2000 cmdlet để tự động hoá không chỉ kết nối mạng, mà còn storage, clustering, RDS, DHCP, DNS, File Server, Print…. Về quản lý mạng, PowerShell 3.0 cung cấp cmdlet để quản lý các thiết lập TCP / IP, card mạng, kết nối mạng và chính sách, cân bằng tải mạng, mạng QOS, và NIC teaming….

Tổng Kết

Như vậy trong bài viết này, bạn đã được giới thiệu các chức năng cơ bản về network có trong Windows Server 2012 hỗ trợ cho việc triển khai hạ tầng cloud.Trong bài số 9, chúng ta sẽ tìm hiểu về mô hình triển khai network trong Windows Server 2012 triển khai hạ tầng cloud.

Advertisements

What’s new in Windows Server 2012 for Hyper-V Based Cloud Computing (Phần 7): Kịch bản triển khai Hyper-V có tính sẵn sàng cao

Tính sẵn sàng trong Windows Server 2012

Tính chất luôn sẵn sàng có được bằng cách xây dựng hệ thống mà không phải chỉ có một phần mềm hoặc phần cứng nào đó là điểm chịu lỗi duy nhất. Ngoài ra nó còn phải hổ trợ việc chuyển đổi dữ liệu giữa các ứng dụng đang chạy mà không làm gián đoạn công việc hay mất mát dữ liệu. Lúc trước, các công ty lớn thực hiện giải pháp này bằng một phần mềm hoặc phần cứng hổ trợ của hãng thứ ba.  Các tổ chức nhỏ với đội ngũ IT có kiến thức giới hạn thì đây quả là một thách thức khó khăn với họ. Một tin tốt lành, kể từ Windows Server 2012, giải pháp “continuously-available”  được triển khai và quản lý một cách đơn giãn hơn, tăng cường hỗ trợ phần cứng, tăng cường nhiều chức năng cho server như Server Manager với remote và multi-server.

Các ứng dụng quan trọng hơn bây giờ được lưu trữ chung với các ứng dụng có độ ưu tiên thấp trong cùng một cụm cluster. Các máy ảo mới có thêm chức năng độ ưu tiên, Windows Server 2012 hỗ trợ shut down những máy ảo có độ ưu tiên thấp hơn để giải phóng tài nguyên cho nhưng máy ảo có độ ưu tiên cao. Những máy ảo có độ tiên thấp này sẽ được khởi động trở lại khi tài nguyên sẵn sàng cho chúng.

Tăng cường khả năng chịu lỗi, đưa các thông tin về bộ nhớ RAM, và tài nguyên khác, nhằm mục đích lựa chọn máy chủ Hyper-V thích hợp cho lưu trữ của máy ảo. Mỗi yêu cầu về tài nguyên được tính trên mỗi máy ảo đặt tại máy chủ đó.

Live Migration được tăng cường để hổ trợ di chuyển các máy ảo. Trong giao diện Failover Cluster Manager bạn có thể lựa chọn nhiều máy ảo và đưa vào hàng đợi của Live Magration. Failover Cluster Manager bây giờ còn cho phép bạn tạo các query đến máy ảo dựa vào nhiều thông số khác nhau, mà không cần bạn phải nhớ các query phức tạp này.

Một chức năng mới khác là Automated Node Draining, chỉ cần một cú click chuột để tự động di chuyển tất cả các máy ảo trong một code của cluster sang node khác. Trong chức năng này, bạn chỉ cần cung cấp cho System Center Virtual Machine Manager nơi nào mà các máy ảo sẽ chuyển đến, hổ trợ di chuyển các ứng dụng đang hoạt động trong suốt quá trình update dữ liệu của cluster.

Windows Server 2012 kết hợp tính năng Cluster-Aware Updating (CAU) như một phần của quản lý Failover Clustering. CAU hoàn toàn tự động và làm việc liên tục với hạ tầng của Windows Update Agent (WUA) và Windows Server Update Services (WSUS). CAU cũng phát triển một lớp plugin để hổ trợ trong việc phát triển các ứng dụng tích hợp vào, như IOS updating tools, network interface cards (NIC), or host bus adapter (HBA) updating tools. Tiến trình CAU xảy ra trên tất cả các node trong cluster, trong suốt quá trình quét và tải về các bản update, khối lượng công việc đổ vào các node và đặt trong chế độ bảo trì.

Phần quản lý của Cluster Shared Volums (CSV) cũng được tích hợp vào Failover Cluster Manager. Một thiết kế của CSVFS được sử dụng trong các công cụ quản lý lưu trự để cho thấy sự hữu dụng của CSV volumes. CSV Volumes vẫn giữ lại các định dạng NTFS, nhưng bây giờ thì các ứng dụng có thể chạy ở lớp trên cảu CSV Volumes. Mặt khác thì CSV cũng tích hợp thêm SMB 2.2 hỗ trợ cho multi-channel, để truyền dữ liệu đa luồng giữa các phiên SMB thông lượng cao. CSV cũng nâng cao SMB 2.2 lên thành RDMA dành cho những ứng dụng đòi hỏi hiệu suất cao. Về mặt an ninh, Windows Server 2012 hỗ trợ Bit Locker cho cả CSV lẫn không CSV.

Chức năng backup CSV volumes cũng trỡ nên dễ dàng hơn trong Windows Server 2012, cho phép quá trình backup diễn ra song song với các CSV volumes khác trong nhiều code của cluster. Không cần yêu cầu thay đổi quyền sở hữu CSV volume giữa các node khi tiến hành backup.

Chức năng Monitoring được tăng cường và phát triển mạnh mẽ trong Windows Server 2012, nó cho phép theo dõi các stack đã hoàn thành để đảm bảo tính liên tục trong hạ tầng điện toán đám mây:

  • Monitoring of heartbeat between cluster nodes
  • Monitoring of the heartbeat between kernel mode driver and user mode service (e.g., to identify user mode hangs)
  • Monitoring of the Hyper-V services health
  • Monitoring of virtual machine health
  • Monitoring of applications running in a virtual machine

Windows Server 2012 cũng cho phép xác định các lỗi ứng dụng và có thể tự động phục hồi ứng dụng.

Giải pháp Block Storage

Trong Windows Server 2012, giải pháp luôn sẵn sàng thể được xây dựng bằng cách sử dụng môi trường lưu trữ khối (block storage) truyền thống bao gồm cả Fibre-Channel hoặc iSCSI SAN, cũng như với RBOD SAS (dạng mở rộng của SATA), SAS JBOD, Windows Server 2012 Spaces (software-based disc virtualization), và FCoE hoặc  SMB 2-based solutions. Windows Server 2012 vẫn hỗ trợ phần cứng chuyên biệt, phần mềm, hoặc cấu hình nhân rộng ứng dụng ngoài các tính năng out-of-the-box cho các giải pháp liên tục sẵn có.

Remote File Storage

Việc sử dụng giao thức SMB 2.2, Windows Server 2012 bật tính năng File Server thành một giải pháp lưu trữ cho các ứng dụng đòi hỏi tính sẵn sàng, bao gồm cả nền tảng ảo hóa Hyper-V. Một cụm File Server hỗ trợ chống lỗi trong suốt với các node chia sẽ bao gồm cả việc auto-recovery của các file được kết nối đến hoặc sử dụng trực tiếp bởi các ứng dụng. File Server có chức năng failover , nó hoàn toàn trong suốt, bạn có thể lên kế hoạch bảo trì phần cứng hoặc phần mềm mà không làm ảnh hưởng đến ứng dụng. Giao thưc SMB 2.2 cũng trở nên trong suốt trong việc phòng chống lỗi, thông qua các phiên kết nối ở mức cao, các kết mạng vẫn luôn giữ ở mức ổn định giữa các node vật lý. Giao thức SMB Witness cho phép các phiên làm việc nhanh chóng kết nối trở lại, bằng cách cung cấp các chỉ thị hoạt động cho client, chức năng này còn phụ thuộc khá nhiêu vào thời gian timeout của mạng.

Network Access Storage

Bên cạnh chức năng Block Storage, Windows Server 2012 có thể hỗ trợ tính sẵn sàng liên tục kết hợp với tính năng Network Access Storage (NAS). Microsoft làm việc với các công ty chuyên về lưu trữ như NetApp, EMC để tích hợp SMB 2.2 vào kiến trúc hạ tầng của NAS, giống như Hyper-V, đòi hỏi hiệu suất cao và khả năng mở rộng.

Tổng Kết

Trong bài này, bạn đã học về Windows Server 2012 kịch bản triển khai tính luôn sẵn sàng với các giải pháp lưu trữ khác nhau có thể hỗ trợ việc triển khai điện toán đám mây. Trong phần 8 của loạt bài này, bạn sẽ tìm hiểu về sự hỗ trợ kết nối mạng trong Microsoft Windows Server 2012 có thể chứa một loạt các kịch bản triển khai điện toán đám mây và các yêu cầu hiệu suất.

 

What’s new in Windows Server 2012 for Hyper-V Based Cloud Computing (Phần 6): Giới thiệu các tính năng có độ sẵn sàng cao trong Hyper-V

Trong bài viết này, bạn tìm hiểu về các tính năng mới liên quan đến sự liên tục trong Windows Server 2012 Hyper-V, điều mà chúng ta có thể tận dụng để tăng hiệu suất cao và khả năng mở rộng của môi trường đám mây.

 Windows Server 2012 có độ sẵn sàng cao

Trong Windows Server 2012, Microsoft chuyển từ một phương pháp mang tính sẵn sàng cao chuyển sang phương pháp tiếp cận mang tính liên tục và sẵn có. Microsoft định nghĩa tính chất này là “nền tảng phần mềm và phần cứng được thiết kế để hỗ trợ chuyển đổi dự phòng trong suốt và không làm mất dữ liệu”. Windows Server 2012 tiếp tục cải thiện và phát triển các tính năng sẵn có (Failover Clustering, Live Migration, Storage Migration, and Guest Clustering) đồng thời bổ sung thêm tính năng mới (Hyper-V Replica) để cải thiện tính sẵn sàng liên tục. Windows 8 Hyper-V cũng lợi dụng cải tiến trong lưu trữ, mạng, và thiết kế phần cứng máy chủ để đạt được tính sẵn sàng liên tục.

Live Migration

Live Migration, được giới thiệu trong Windows Server 2008 R2, cung cấp khả năng di chuyển một máy ảo từ một nút Hyper-V khác trong cluster mà không gặp bất kỳ sự gián đoạn dịch vụ nào. Khả năng mới trong Windows Server 2012 Live Migration cho phép di chuyển một máy ảo từ một máy chủ Hyper-V đến bất kỳ máy chủ Hyper-V khác. Trong thực tế, bạn có thể sử dụng chuyển đổi trực tiếp để di chuyển máy ảo giữa các node trong một cluster, giữa các nodes trong các cụm cluster, giữa một máy chủ Hyper-V không nằm trong  cluster và một máy chủ Hyper-V trong một cluster, hoặc giữa hai máy chủ Hyper-V không cùng cluster.

Live Migration trong Windows Server 2012 cũng hỗ trợ di chuyển nhiều máy ảo đồng thời. Không có giới hạn số lượng máy ảo di chuyển đồng thời, thay vì nó được bao bọc bởi các tài nguyên có sẵn chẳng hạn như số lượng băng thông mạng có sẵn. Để mở rộng một số lượng máy ảo di chuyển đồng thời, bạn chỉ cần mở rộng hạ tầng sẵn có, như băng thông mạng, các máy chủ Hyper-V mà bạn muốn di chuyển.

Live Storage Migration

Trong phiên bản System Center Virtual Machine Manager 2008 R2 Microsoft đã giới thiệu tính năng Quick Storage Migration cho phép di chuyển phần lưu trữ của máy ảo qua một thiết bị lưu trữ khác với thời gian chết (thời gian ngừng dịch vụ) tối thiểu. Quick Storage Migration dựa trên Windows Server 2008 R2 Hyper-V và dịch vụ Background Intelligent Transfer Service (BITS) để thực hiện việc di chuyển. Quick Storage Migration có thể di chuyển ổ đĩa ảo của một máy ảo đang chạy các giao thức lưu trữ (iSCSI, FC) hoặc kiểu lưu trữ (internal, DAS, SAN).

Windows Server 2012 cung cấp Live Storage Migration như là một tính năng sẵn có của Hyper-V. Live Storage Migration cho phép bạn di chuyển các đĩa cứng ảo gắn liền với một máy ảo đang chạy đến một vị trí mới mà không bị dừng, gián đoạn. Dĩ nhiên kèm theo đó là một sự chuyển đổi bao gồm các nâng cấp thiết bị lưu trữ , di chuyển giữa các cấp độ khác nhau của dịch vụ lưu trữ, hỗ trợ bảo trì, và tái phân phối tài nguyên lưu trữ. Live Storage Migration hỗ trợ di chuyển ổ đĩa ảo của một máy ảo đang chạy các giao thức lưu trữ (iSCSI, FC, SMB) hoặc kiểu lưu trữ (internal, DAS, SAN, file share).

Ở một mức độ cao hơn, chuyển đổi lưu trữ trực tiếp thực hiện các hoạt động sau đây trong quá trình chuyển:

  1. Đọc và ghi dữ liệu từ đĩa nguồn VHD.
  2. Tạo một phân vùng con khác trên phân vùng đĩa sẽ được dùng để chuyển qua.
  3. Sao chép đĩa nguồn VHD đến nơi lưu trữ mới.
  4. Ánh xạ ổ đĩa thành lên đĩa nguồn VHD và đĩa đích VHD và hoàn tất quá trình sao chép.
  5. Thực hiện đọc và ghi trên đĩa VHD đích giống như trên đĩa VHD nguồn giống như đồng bộ.
  6. Thực hiện xoá đĩa nguồn VHD.

Network Interface Card Teaming

Trong phiên bản Windows Server 2008 và các phiên bản Windows Server trước đó, nếu bạn muốn tạo ra một nhóm các Card mạng NIC để phòng trường hợp mất mát dữ liệu do các card mạng NIC gặp sự cố thì phải mua nhiều card mạng cùng một nhà cung cấp. Sau đó sử dụng một phần mềm do họ cung cấp đề tạo NIC Teaming. Tuy nhiên ngay sau đó Windows vẫn không hổ trợ giải pháp cho nhiều card mạng và bạn buộc phải nó bị vô hiệu quá NICs để hổ trợ khắc phục xự cố.

Windows Server 2012 cung cấp tính năng nhóm các NICs lại với nhau, thậm chí ngay cả khi chúng thuộc các nhà sản xuất khác nhau. Ví dụ như bạn có thể tạo một nhóm NIC  cho card mạng Intel và Broadcom để hổ trợ failover hoặc trunking. Điều này cho phép tạo ra một giải pháp tốt hơn mà không lệ thuộc vào nhà cung cấp độc quyền nào. Trong thời gian tới bạn sẽ có được hỗ trợ đầy đủ hơn các tính năng của NIC Teaming từ Microsoft. Tất nhiên bây giờ thì bạn vẫn phải sử dụng giải pháp tử những nhà cung cấp dịch vụ thứ 3 trong một số trường hợp đặc biệt yêu cầu những tính năng không được cung cấp bởi Windows Server 2012.

Có ba chế độ NIC Teaming được hổ trợ: Witch Independent, Static Teaming, and Link Aggregation Control Protocol (LACP). Trong đó Static teaming và  LACP, chỉ hổ trợ cho Swich network. Một máy tính Windows Server 2008 có khả năng hổ trợ lên đến 32 card mạng để tạo NIC Team và bạn có thể quản lý NIC Team bằng Server Manager Console hoặc PowerShell. Khi cấu hình card mạng, bạn chọn card mà bạn muốn gom thành nhóm. Mặc định thì chúng sẽ có cùng VLAN và bạn có thể trunking với nhau. Tuy nhiên, bạn cũng có thể lấy riêng từng VLAN ID để gán riêng cho một nhóm.

Giải pháp Failover cho cụm máy ảo

Trong Windows Server 2008, Hyper-V cung cấp giải pháp cluster cho cụm máy ảo với yêu cầu sử dụng iSCSI cho lưu trữ. Đây là một giải pháp lý tưởng, nó phát sinh một số vấn đề cho khách hàng muốn sử dụng cluster nhưng không có yêu cầu kiểu lưu trữ iSCSI. Trong khi Windows Server 2008 tiếp tục hổ trợ cluster cho cụm máy ảo thông qua cơ chế lưu trữ iSCSI, nó cũng được giới thiệu thêm cụm máy ảo sử dụng kênh ảo hóa cáp quang (Virtual Fibre Channel Adapter – VFCA). Tận dụng VFCA các máy ảo có thể truy xuất thông qua kênh truyển dẫn Fibre đến các port Fibre, cho phép khách hàng tích hợp thiết bị SAN đã có.

Hyper-V Replica

Windows Server 2012 giới thiệu một giải pháp mới gọi là Hyper-V Replica. Hyper-V Replica cho phép sao chép không đồng bộ (Asynchronous Replication) các máy ảo giữa các máy chủ vật lý với nhau thông qua kết nối mạng IP. Điều này không phụ thuộc vào kiểu lưu trữ sử dụng trên máy ảo.  Việc đồng bộ này được cấu hình ở mức độ máy ảo, nó không đòi hỏi phải đồng bộ tất cả các máy ảo có trên máy vật lý. Hyper-V Replica cũng cho phép tích hợp với Failover Cluster Manager để di chuyển các máy ảo giữa các node trong cluster, mà không làm gián đoạn hoạt động của máy ảo.

Hyper-V Replica thực hiện đồng bộ bằng cách theo dõi các hoạt động của máy ảo trên máy nguồn và sao chép những thay đổi đến máy ảo  trên máy chủ đích. Hyper-V Replica có thể được sử dụng trên một mạng LAN hoặc WAN. Đồng bộ được thực hiện trên giao thức HTTP hoặc HTTPS để vượt qua tường lửa dễ dàng. Khi cấu hình Hyper-V Replica, bạn có sự lựa chọn để sử dụng tích hợp chứng thực mà không cần mã hóa dữ liệu sao chép, hoặc xác thực dựa trên chứng chỉ để mã hóa dữ liệu trước khi sao chép. Enable và quản lý tình trạng tính năng này trên bằng cách sử dụng Hyper-V Manager, Failover Cluster Manager, PowerShell, và WMI.

Tính sẵn sàng và liên tục cho File Server

Trong Windows Server 2012, Hyper-V tận dụng tính năng chia sẻ file cho lưu trữ cục bộ của các máy ảo, sử dụng cải tiến mới trong giao thức SMB2. Để đảm bảo rằng tính năng chia sẻ file không trở thành điểm duy nhất gây ra lỗi, bạn có thể cấu hình chuyển đổi dự phòng cho file shares giữa các node cụm máy chủ.

Với Windows Server 2012, bạn có thể xây dựng lên đến bốn node trong một cụm máy ảo, cung cấp khả năng truy xuất đồng thời đến các node xoay vòng. Cấu hình này được hổ trợ trong Hyper-V, với kiểu lưu trữ được hổ trợ cho multipathing và khả năng phục hồi của SAN.

Tổng Kết

Trong các tính năng high-availability có trong Microsoft Windows Server, Windows Server 2012 tập trung hổ trợ cho network, storege và khả năng di chuyển để hỗ trợ cho công việc, những điều này sẽ đem đến cho các nhà quản trị những lựa chọn thực sự hữu ích trong việc chọn lựa các giải pháp triển khai hệ thống điện toán đám mây. Trong phần 8, chúng ta sẽ được giới thiệu một cách chi tiết hơn việc triển khai hệ thống tín sẵn sàng cao trong Windows Server 2012.

%d bloggers like this: