Category Archives: System Center

Giới thiệu bộ giải pháp quản trị tập trung của Microsoft có tên gọi System Center trong đó có các sản phẩm như: System Center Configuration Manager, System Center Operations Manager, Data Protection Manager…

Tổng quan System Center Virtual Machine Manager (SCVMM) – Phần IV

VI. Cài đặt các thành phần trong VMM 2008

1. Kiểm tra hệ thống

Đây là một bước khá quan trọng trước khi bước vào quá trình cài đặt thực sự VMM 2008 bao gồm việc xem xét hệ thống có đạt đủ các yêu cầu tối thiểu cho phần cứng và phần mềm hay không. Những yêu cầu này khá quan trọng do đó Microsoft đã đưa ra công cụ hỗ trợ tiến trình này cho người triển khai VMM 2008 gọi là VMM2008 System Center Virtual Machine Manager 2008 Configuration Analyzer cho vấn đề kiểm tra xem hệ thống có trong tình trạng thích hợp cài đặt và vận hành VMM 2008 hay không. Bên cạnh đó người triển khai sẽ thường bắt gặp các yêu cầu kiểm tra hệ thống trong suốt qua trình cài đặt các thành phần, nhưng việc ứng dụng bộ công cụ trên sẽ giúp người triển khai xác định rõ được khả năng hệ thống so với việc vận hành VMM 2008 trước khi phải tải và cài đặt rồi mới kiểm tra.

Trước khi Virtual Machine Manager 2008 Configuration Analyzer có thể được cài đặt, thì yêu cầu Microsoft Baseline Configuration Analyzer (MBCA) phải được cài đặt trước tiên trên hệ thống đích. Nếu không sẽ không sẵn sàng cho việc cài đặt

Có thể tải về MBCA tại đây : Microsoft Baseline Configuration Analyzer

Có thể tải về VMM 2008 Configuration Analyzer tại đây : Virtual Machine Manager 2008 Configuration Analyzer

Một khi System Center Virtual Mahcine Manager 2009 Configuration Analyxer được cài đặt hoàn tất trên hệ thống. Lúc này công cụ sẽ được kích hoạt theo đường dẫn mặc định như sau Startà All Programs à Virtual Machine Manager 2008 Configuration Analyzer à Configuration Analyzer. Sau đây là giao diện sau khi kích hoạt

Bước đầu tiên trong việc thực hiện quá trình kiểm tra là chọn các thành phần VMM 2008 sẽ được cài đặt. Nếu như các thành phần này sẽ được cài đặt trên máy khác so với máy hiện tại đang chạy công cụ này thì điều phải làm là thiết lập tên máy sẽ kiểm tra kèm theo đó là tài khoản quản trị cần thiết cho quá trình kiểm tra thông qua điều khiển từ xa. Một khi các tùy chọn đã được thiết lập hoàn tất click vào nút Scan dể bắt đầu quá trình phân tích hệ thống.

Khi mà việc phân tích hoàn tất sẽ đưa ra một bảng báo cáo chi tiết trên trình duyệt về hệ thống vừa phân tích kèm theo trong các khu vực đánh ghi chú vàng là khu vực cần xem xét là trước khi tiến hành cài đặt. Sau khi xem xét việc thay đỗi các cấu hình cần thiết để xử lý các thông báo vàng đó tiếp tục lập lại quá trình phân tích đến khi nào không tìm thấy bất cứ cảnh báo vàng nào với dòng thông báo như sau “No configuration issues found”.

Giả sử việc phân tích cho ra kết quả hệ thống đáp ứng đủ các yêu vầu cần thiết thì sẽ qua đến bước tiếp theo trong chương này là chuẩn bị bộ cài đặt VMM 2008.

2. Chuẩn bị bộ cài đặt VMM 2008

VMM 2008 có thể được đặt mua từ Microsoft. Tuy nhiên nếu chỉ cần cài đặt cho quá trình thực nghiệm thì một phiên bản thử nghiệm 180 ngày có thể được tải về tại đây: Virtual Machine Manager 2008 R2 SP1

Ở thời điểm này, bản thử nghiệm gồm có 3 tập tin tất cả, mỗi tập tin có dung lượng 1GB. Một trong số đó có một tập tin được đặt tên là SCVMM2008_EVAL.part1.exe. Thực thi tập tin này trong cùng thư mục với hai tập tin còn lại sẽ cho ra bộ cài đặt hoàn chỉnh. Chú ý đưỡng dẫn khi khai báo nơi giải nén bộ cài đặt.

Khi việc giải nén hoàn tất ngay lập túc giao diện cài đặt Wizard xuất hiện và bắt đầu cho quá trình cài đặt thực sự.

3. Triển khai VMM Server

Khi quá trình cài đặt được kích hoạt sẽ xuất hiện một giao diện wizard như sau chú y là đúng với cả hai phiên bản trả phí và thử nghiệm.

Trong giao diện wizard thì mục Setup là phần chúng ta cần quan tâm nhất trong chương này đây là mục cung cấp các tùy chọn cho việc cài đặt các thành phần của VMM 2008. Và đúng với mục đích ban đầu của mục này chúng ta sẽ cài đặt VMM Server cùng với thành phần không kém phần quan trọng là Microsoft SQL Express và VMM Library (thành phần này đi kém với VMM Server). Để bắt đầu tiến trình cài đặt chúng ta chọn tùy chọn VMM Server trong mục Setup. Ban đầu quá trình cài đặt này sẽ tạo một bản sao một số tập tin tạm yêu cầu cho quá trình cài đặt trước khi đưa ra bảng thông báo về các điều khoản bản quyền trong hộp thoại License Terms.

Đọc và chấp nhận các điều khoản trước khi chọn Next để qua đến các tùy chọn Customer Experience Program.

Chọn lựa các tùy chọn cần thiết và tiếp tục nhấn Next để qua màn hình Product Registration, đây là nơi nhập các thông số về người dùng và tên tổ chức.

Một khi hoàn tất các thông số đăng ký cần thiết, màn hình tiếp theo sẽ tiến hành kiểm tra hệ thống và phần cứng để chắc chắn rằng hệ thống mục tiêu có đủ khả năng vận hành thành phần VMM Server. Giả sử hệ thống đạt đủ các điều kiện cần thiết thì qua quá trình kiểm tra sẽ có một bản báo cáo thành công và việc cài đặt có thể tiếp tục bằng cách chọn Next. Trong trường hợp việc kiểm tra tương thích thất bại, người triển khai phải khắc phục các sự cố đưa ra trước khi chọn Check Again để lập lại qua trình kiểm tra.

Màn hình cài đặt tiếp theo yêu cầu một thư mục mà VMM Server sẽ được cài đặt lên đó.. Mặc định lúc này sẽ là C:\Program Files\Microsoft System Center Virtual Machine Manager 2008và người triển khai hoàn toàn có thể thay đổi đường dẫn bằng các nhập vào một đường dẫn mới hoặc bằng cách dùng nút Browse.

Màn hình tiếp theo chúng ta nhận được lúc này là SQL Server Settings nơi này cần phải xác định SQL Server Database sẽ được dùng cho VMM Server. Nếu hiện tại không tồn tại một SQL Server Database nào để sử dụng thì một tùy chọn sẽ được yêu cầu cho việc cài đặt một phiên bản gọn nhẹ cho SQL Server là Microsoft SQL Server Express trên chính máy đang cài đặt VMM Server. Mặt khác có thể lựa chọn một SQL Server đã có sẵn từ trước, được trên chính máy đang cài đặt hoặc một máy khác thông qua cớ chế remote. Trong trường đưa ra sau đây là đã tồn tại sẵn một SQL Server Database và chỉ việc lựa chọn instance thích hợp hoặc có thể tạo mới trực tiếp thông qua tùy chọn Create a new database.

Qua đến màn hình tiếp theo là cho phép cấu hình chia sẻ VMM Library. Đây đơn giản chỉ là một mạng chia sẻ cho phép truy cập đến các thư viện từ các hệ thống khác đang chạy các thành phần VMM 2008. Măc định ban đầu sẽ có tên là MSSCVMMLibrary hoặc một tên mới khác có thể thêm vào. Bên cạnh đó thư viện sẽ được chia sẻ thông qua đường dẫn mặc định làC:\ProgramData\Virtual Machine manager Library Files tất nhiên là tùy chọn mặc định này cũng có thể thay đổi tùy người triển khai thông qua nút Change. Một khi cấu hình thì nơi lưu trữ sẽ có thể không được thay đổi.

Bên cạnh đó còn cung cấp tùy chọn cho phép sử dụng một Library có sẵn từ trước tuy nhiên yêu cầu phải xác định rõ tên cũng như đường dẫn nơi lưu trữ Library.

Tiếp tục nhấn Next để qua màn hình cấu hình các thông số về port. Ban đầu các port tham gia vào quá trình liên lạc với VMM Administrator Console, các máy chủ Library, máy chủ ảo hóa, agent được quy định mặc định như hình bên dưới. Nếu như không có bất kỳ thay đổi nào thì các giá trị mặc định sẽ được sử dụng. Cũng trong màn hình này, sẽ yêu cầu cung cấp một tài khoản dùng cho qua trình truy cập VMM Server.Nếu muốn dùng tài khoản hệ thống cho việc quản lý thì chọn tùy chọn Local System với nhu cầu sử dụng tài khoản Domain thì chọn tùy chọn thứ hai là Other Account có quyền Administrator trên hệ thống này.

Cuối cùng là xem lại tổng kết các tùy chọn cấu hình được đưa ra ở màn hình tiếp theo. Chọn Install để khởi động quá trình cài đặt vào hệ thống.

Sau khi việc cài đặt hoàn tất, sẽ đưa ra một thông báo yêu cầu quá trình cập nhật cho Virtual Machine Manager. Sau đó là sự xuất hiện hai dịch vụ mới chạy nền trong hệ thống là Virtual Machine Manager and Virtual Machine Manager Agent.

4. Triển khai VMM Administrator Console

Như đã biết thành phần VMM Server là thành phần cót lõi giữ nhiệm vụ xử lý hầu hết các công việc bên trong VMM 2008 tuy nhiên thành phần được người dùng biết đến nhiều nhất là VMM Administrator Console đem đến cho người dùng các tác vụ torng việc quản lý và kiểm soát theo dõi các máy ảo trong hệ thống. Trong thực tế khi mà thành phần VMM Administrator Console đã được triển khai trên một hay nhiều máy thì cũng chỉ cần rất ít VMM Server cần được thiết lập.

Thành phần VMM Administrator Console cũng được cài đặt thông qua giao diện wizard VMM 2008. Để bắt đầu tiến trình cài đặt, phải chắc chắn là đã có sẵn bộ cài đặt VMM 2008 và bắt đầu kích hoạt tập tin setup.exe trong thư mục chứa các tập tin cài đặt. Khi xuất hiện giao diện chính, chọn tùy chọn VMM Administrator Console trong mục Setup, sau khi đọc các điều khoản bản quyền thì chọn Next . Nếu VMM Serve r đã cài đặt từ trước trên hệ thống, thì việc yêu cầu lựa chọn Windows Experience Improvement Program sẽ được bỏ qua vì tùy chọn này dựa theo quyết định của người cài đặt trong quá trình cài đặt thành phần VMM Server từ trước. Chọn Next để chuyển qua tiến trình kiểm tra sự sẵn sàng cài đặt của hệ thống. Nếu có bất kỳ lỗi nào được thông qua báo thì vui lòng phải hoàn tất việc thay đổi phù hợp trước khi tiến hành kiểm tra lại.

Một khi đã thành công thông qua việc kiểm tra sẽ xuất hiện màn hình yêu cầu nơi cài đặt cho thành phần này.

Tiếp tục nhấn Next sẽ qua đến màn hình quy định port cho thành phần VMM Administrator Console. Ở đây chỉ để mặc định khi trước đó trong quá trình cài đặt VMM Server không có bất kỳ sự thay đổi về port dùng liên lạc giữa VMM Server và VMM Administrator Console nếu không ở màn hình này yêu cầu phải nhập vào chính xác port đã quy định từ trước để thực hiện quá trình liên lạc trong phần cấu hình VMM Server để đảm bảo port quy định trên VMM Server và VMM Administrator Console là giống nhau.

Cuối cùng chọn Next để xem lại các tùy chọn đã thiết lập trước khi chọn Install để thực hiện cài đặt vào hệ thống. Một khi việc cài đặt hoàn tất, sẽ có một yêu cầu xuất hiện thông báo về vấn đề cập nhật hệ thống, thêm icon trên Desktop và chạy Console ngay khi tắt giao diện cài đặt. Lựa chọn các tùy chọn cần thiết và chọn Close.

Khi hoàn tất có thể sử dụng công cụ này thông qua icon trên Desktop hoặc theo đường dẫn mặc định là Start->All Programs->Microsoft System Center->Virtual Machine Manager 2008->Virtual Machine Manager Administrator Console.

5. Triển khai VMM Self-Service Portal

VMM Self Service Portal hỗ trợ trên tất cả hệ thống dùng Windows Server 2008 và Windows Server 2003 SP2 và yêu cầu tối thiểu là Internet Information Service 6.0 (IIS 6.0). Yêu cầu kèm theo cho IIS trên Windows Server 2008 là IIS Metabase Compatibility và IIS 6 WMI Conpatibilityphải được cài đặt trước khi cài đặt VMM Self Service Portal.

Như những thành phần khác của VMM, Self Service Portal cũng được cài đặt thông qua màn hình wizard của bản cài đặt bản quyền hoặc thử nghiệm. Chay tập tin Setup.exe trong thư mục cài đặt. Lúc này xuất hiện một màn hình wizard và chọn lấy tùy chọn cần thiết là VMM Self Service Portal trong mục setup và chờ đợi trong khi sao chép các tập tin cần thiết cho quá trình cài đặt. Tiếp đó đọc các quy định bản quyền và chọn Next. Chọn chập nhận choWindows Experience Improvement Program khi được thông báo và tiếp đó là quá trình kiểm tra sẽ được tiến hành. Nếu có bất kỳ thông báo lỗi nào xảy ra phải đảm bảo xử lý hết các lỗi đó trước khi tiến hành kiểm tra lại cho đến khi thành công. Chú ý là bất kỳ vần đề nào phát sinh cũng sẽ được hướng dẫn từng bước làm sao để giải quyết.

Một khi đã thông qua quá trình kiểm tra hệ thống, việc cài đặt sẽ yêu cầu lựa chọn nơi cài đặt cho thành phần này hoặc có thể chọn mặc định nếu thấy không cần thiết thiết lập lại. Tiếp đến màn hình kế sẽ cung cấp các tuy chọn để cấu hình thông số cho Web Server:

– Virtual Machine Manager Server – Tên domain đầy đủ của máy chủ đang chạy VMM Server để Self Service Portal kết nối đến và thực hiện công việc quản lý các máy theo yêu cầu người dùng.

– TCP port for communication with the server – đây là port được dùng để liên lac giữa VMM Server với Self Service Portal. Mặc định là 8100 tuy nhiên nên thay đổi cho phù hợp với port liên lạc quy định trước đó trên VMM Server nếu như khi triển khai có yêu cầu đổi port.

– TCP port for the Self-Service Portal – đầy là port dành cho người dùng sẽ kết nới đến Self Service Portal thông qua trình duyệt. Mặc định là 80 sẽ cung cấp cho người dùng tuy nhiên sẽ có thể gặp đụng độ với các site khác trên máy chủ. Nếu gặp trường hợp này nên đổi port khác cho thích hợp hoặc sử dụng một host header

– Host header required for portal access – Host header là hình tính năng cho phép nhiều website chia sẻ với nhau chung một địa chỉ IP và web server. Nếu VMM Self Service Portal được chia sẻ chung webser với các website khác, host header này sẽ phân luồng traffice đến đúng website quy định trong webserver.

6. Triển khai VMM Agent

Trong vấn đề triển khai VMM 2008 thì để có thể quản lý tập trung các máy chủ ảo hóa như Hyper-V hoặc Virtual Server thì những máy chủ đó buộc phải là một Agent đối với VMM 2008. Và để trổ thành một Agent thì yêu cầu tất cả những máy chủ đó phải được cài đặt thành phần của VMM 2008 gọi là VMM Agent trên hệ thống. Tuy nhiên với những máy đã triển khai VMM Server trên đó thì thành phần này không cần thiết quan tâm vì nó là một thành phần đi kèm sẵn khi triển khai VMM Server. Với những máy chủ khác yêu cầu phải được cài đặt thành phần này trước khi thêm chúng vào danh sách quản lý trên VMM 2008.

VMM Agent được cài đặt thông qua bộ cài đặt VMM 2008 bao gồm cả phiên bản tính phí và phiên bản thử nghiệm. Để khởi động quá trình cài đặt, kích hoạt tập tin Setup.exe trong bộ cài đặt và chọn tùy chọn Local Agent trong mục Setup. Lúc này sẽ xuất hiện màn hình thông báo các qui định về bản quyền, ở đây chỉ cần lướt qua và chọn Next để qua giao diện cấu hình thư mục cài đặt cho thành phần này.

Sau đó sẽ qua tới bước thiết lập các thông số cấu hình qui định port sử dụng cho quá trình liên lạc với VMM Server. Thông số port này tùy theo thông số port qui định trước đó trên VMM Server mà cấu hình nếu ban đầu trên VMM Server để mặc định thì ở đây chỉ cần chọn Next để tiếp tục bước tiếp theo là Security File Folder. Đây là nơi lưu trữ các tập tin được sử dụng bởi VMM 2008 cho việc quản lý máy chủ ảo hóa và những tập tin này không là một phần trong AD. Tùy chọn This Host is in a Perimeter Network chỉ sử dụng khi mà máy cài đặt VMM Agent không là một phần của domain nào cả.

Tiếp tục chọn Next để quá đến màn hình cuối cùng nơi mà sẽ chọn Install để hoàn tất quá trình cài đặt VMM Agent trên hệ thống.

Advertisements

Tổng quan System Center Virtual Machine Manager (SCVMM) – Phần III

III. Các yêu cầu hệ thống VMM 2008

Microsoft Virtual Machine Manager (VMM) 2008 là một bộ công cụ quản trị cấp độ doanh nghiệp. Do đó cần đạt được một số chuẫn mực nhất định về các yêu cầu cho việc cấu hình vận hành công nghệ này. Trong chương này sẽ cung cấp các kiến thức chung nhất về yêu cầu phần cứng cũng như phần mềm cho vấn đề triển khai.

1. VMM 2008 và Active Directory

Trước tiên điều tiên quyết chiếm gần như 50% yêu cầu cho hệ thống đó chính là bản thân máy vận hành VMM 2008 và các máy chủ ảo hóa để có thể được quản lý tập trung trên VMM 2008 thì chúng phải là một thành viên trong domain Active Directory Domain Service (ADDS).

2. Yêu cầu về hệ điều hành

Như đã đề cập nhiều lần trong các chương trước đây, VMM 2008 là một tập hợp gồm nhiều thành phần khác nhau, chúng có thể cùng vận hành trên một máy đơn duy nhất hoặc trải dài trên nhiều máy chủ vận hành các thành phần khác nhau. Khi xoay quanh vấn đề yêu cầu về hệ điều hành thì phải hiểu được sự khác nhau về yêu cầu hệ thống đối với từng thành phần trong VMM. Ví dụ: VMM Administrator hỗ trợ được trên Windows Vista nhưng lại không chạy được trên Windows Server 2008 Core. Bảng theo sau đây cung cấp cái nhìn toàn cảnh về vấn đề hỗ trợ hỗ trợ hệ điều hành và thành phần VMM.

Hệ điều hành VMM Server VMM Admin Console VMM Library Server VMM Self-Service Portal
Windows Server 2008 32-bit Standard, Enterprise Datacenter No Yes Yes Yes
Windows Server 2008 64-bit Standard, Enterprise Datacenter Yes Yes Yes Yes
Windows Server 2008 Server Core Standard, Enterprise Datacenter No No Yes Yes
Windows Server 2003 32-bit (SP2) Standard, Enterprise Datacenter No Yes Yes Yes
Windows Server 2003 64-bit (SP2) Standard, Enterprise Datacenter No Yes Yes Yes
Windows Server 2003 R2 32-bit (SP2) Standard, Enterprise Datacenter No Yes Yes Yes
Windows Server 2003 R2 64-bit (SP2) Standard, Enterprise Datacenter No Yes Yes Yes
Windows Vista (SP1) No Yes No No
Windows XP Professional 32-bit (SP2 hoặc SP3) No Yes No No
Windows XP Professional 64-bit (SP2 hoặc SP3) No Yes No No

3. Yêu cầu về phần mềm cho VMM Server

Ngoài các yêu cầu về hệ điều hành ở trên, thành phần VMM Server còn yêu cầu một số thiết lập như sau:

· Windows PowerShell

· Microsoft .NET Framework 3.0 hoặc hơn

· Windows Automated Installationn Kit (Windows AIK)

· Windows Remote Mnagement (WinRM)

Cả hai tính năng Windows PowerShell và Microsoft .Net Framework đều là tùy chọn sẵn sàng trên Windows Server 2008 và có thể được cài đặt bằng cách dùng tùy chọn Add feature trong Server Manager. WindRM được cài đặt mặc định trong Windows Server 2008 và Windows AIK sẽ được cài đặt tự động khi tiến hành cài đặt VMM 2008 bằng giao diện wizard nếu nó chưa được cài đặt trước đó.

4. Yêu cầu phần mềm cho Self-Service Portal

Ngoài các yêu càu cho VMM server, Internet Information Service (IIS) là yêu cầu cần thiết cho một hệ thống cài đặt Self Service Portal. Việc cài đặt IIS phải có trong đó 2 tùy chọn IIS Metabase Conpatibility và IIS WMI Conpatibility.

IIS có thể được cài đặt trên Windows Server 2008 bằng công cụ Add Roles trong Server Manager

5. Yêu cầu về Database

VMM 2008 yêu cầu một databse trong tình trạng sẵn sàng. Có thể là Microsoft SQL Server hoặc SQL Server Express. Database này có thể được cài đặt trên cùng một hệ thống với VMM Server hoặc là một máy chủ tách rời. Với một công việc quản lý một cơ sở hạ tầng ảo hóa lớn ( trên 150 máy ảo), thì triển khai sản phẩm Microsoft SQL Server trên một máy chủ độc lập là một yêu cầu rất quan trọng. Tuy nhiên với môi trường nhỏ. SQL Express có thể được cài đặt cùng máy chủ với thành phần VMM server mà vẫn đảm bảo hoạt động.

6. Yêu cầu phần cứng khi triển khai VMM 2008 trên một máy chủ đơn nhất

Yêu cầu chính xác cho phần cứng khi triển khai VMM 2008 phụ thuộc vào một số nhân tố trong đó gồm cài đặt các thành phần trên cùng một máy chủ hoặc triển khai dạng phân tán và số lượng máy chủ sẽ quản lý cũng như giám sat hoạt động.

Danh mục phần cứng theo sau đây là yêu câu phần cứng cho phép cài đặt tất cả thành phần của VMM 2008 lên một máy chủ (Chú ý: số lượng máy ảo quản lý ở mức độ này chỉ giới hạn là 5):

· Dual-Core Pentium 4, 2 GHz (x64) hoặc hơn

· 2GB RAM

· Ổ cứng còn trống 40GB

Cấu hình phần cứng đề nghị sau đây là cho hệ thống quản lý khoảng 20 máy ảo và cung thiết lập tất cả thành phần VMM lên máy chủ này:

· Dual-Core Pentium 4, 2 GHz (x64) hoặc hơn

· 4GB RAM

· Ổ cứng còn trống 50GB

7. Yêu cầu phần cứng VMM Server

Khi chỉ cài đặt thành phần VMM Server trên một máy chủ. Cấu hình sau đây là đề nghị để quản lý 150 máy ảo:

· Dual-Processor, Dual-Core, 2 GHz (x64) hoặc hơn

· 4GB RAM

· Ổ cứng còn trống 50GB (kèm theo SQL Server Express đã được cài đặt)

Còn cấu hình phần cứng đề nghị sau đây là dành cho cấp độ quản lý trên 150 máy ảo:

· Dual-Processor, Dual-Core, 2 GHz (x64) hoặc hơn

· 8GB RAM

· Ổ cứng còn trống 50GB

8. Yêu cầu phân cứng cho VMM Administrator Console

Khi chỉ cài đặt một thành phần là VMM Administrator Console trên một máy chủ, thì cấu hình phần cứng đề nghị sau đây cung cấp khả năng quản lý 150 máy ảo:

· Pentium 4, 1 GHz hoặc hơn

· 1GB RAM

· Ổ đĩa còn trống 2GB

Cấu hình cho phép quản lý hơn 150 máy ảo:

· Pentium 4, 2GHz hoặc hơn

· 2GB RAM

· ổ đĩa còn trống 4GB

9. Các yêu cầu phần cứng cho VMM Self-Service Portal

Khi triển khai chỉ một thành phần là VMM Self Service Portal trên một máy chủ, cấu hình hệ thống đề nghị sau đây cho phép quản lý cùng lúc 10 kết nối:

· Pentium 4, 2.8 GHz

· 2GB RAM

· Ổ cứng còn trống 20GB

Đề hỗ trợ hơn 10 kết nối cùng lúc đến Self Service Portal, cấu hình phần cứng sau đây được đề nghị:

· Dual-Core 64-bit, 3.2 GHz hoặc hơn

· 8GB RAM

· Ổ đĩa còn trống 40GB

10. Yêu cầu phần cứng cho VMM Database

Khi chỉ cài đặt thành phần VMM Databse trên một máy chủ, cấu hình phần cứng sau đây được đề nghị cho hệ thống quản lý lên đến 150 máy ảo:

· Dual-Core 64-bit, 2 GHz

· 4GB RAM

· Ổ cứng còn trống 165GB (Kèm theo đã cài đặt Microsoft SQL Server Express)

Cầu hình sau đây dành cho hệ thống trên 150 máy ảo:

· Dual-Core 64-bit, 2.8 GHz

· 8GB RAM

· Ổ cứng còn trống 200GB (Đề nghị đã cài đặt Microsoft SQL Server)

11. Yêu cầu phần cứng cho VMM Library Server

· Dual-Core 64-bit, 3.2 GHz hoặc hơn

· 2Gb RAM

· Không gian gian đĩa yêu cầu phụ thuộc vào khối lượng tập tin lưu trữ trong Library

Tổng quan System Center Virtual Machine Manager – Phần II

II. Kiến trúc và port trong VMM 2008

Trong chương trước đã giới thiệu sơ qua về các thành phần trong VMM. Lúc này sẽ có vài người đặt ra vần đề là sự hiểu biết về kiến trúc của VMM 2008 là không cần thiết để có thể sử dụng công nghệ này trong quản lý, tuy nhiên có một sự hiểu biết cơ bản về cách các hệ thống vận hành có thể rất có ích, đặc biệt là khi cố gắng chẩn đoán vấn đề phát sinh. Đặc biệt là trong triển khai cấu hình một hệ thống phân tán, hiểu rõ cơ chế vận hành của các thành phần thông qua các port là một vấn đề tiên quyết.

1. Sơ đồ kiến trúc VMM 2008

Như đã đề cập ở chương trước VMM 2008 là công cụ được tập hợp các thành phần hoạt động khác nhau được triển khai trên cùng một máy chủ hoặc phân tán chúng trên một dãi máy chủ. Các thành phần này liên lạc trao đổi với nhau thông qua một thành phân nhân trong VMM 2008 gọi là VMM server có vai trò sử dụng các giao thức khác nhau trong quá trình trao đổi với các thành phần khác. Ngoài việc trao đổi với các thành phần bên trong thì vai trò chính của VMM server còn là liên lạc với các máy chủ đang vận hành các máy ảo trên đó nhằm thực thi các thao tác quản lý. Sơ đồ sau đây cung cấp cái nhìn toàn cảnh cao nhất của nền tảng VMM 2008 và các giao thức liên lạc chính giữa chúng.

2. Lớp VMM 2008 Client

Lớp khách hàng (Client Layer), đây là lớp trên cùng trong sớ đồ nền tảng của VMM 2008 bao gồm trong đó là 4 đối tượng chính VMM Administrator Console, VMM Self-Service portal, Systems Center OpsMgr và Windows PowerShell cmdlets. Như sơ đồ miêu tả thì có lẽ phần nào hình dung ra được bất cứ thao tác nào muốn được thi trên các thành phần của nhóm này (ngoài thành phần PowerShell) đều phải thông qua bước trung gian chuyển thành các kịch bản Powershell và được kích hoạt sau đó. Các thành phần này đều cung cấp giao diện người dùng cho việc quản lý và giám sát các máy chủ ảo hóa, máy ảo và cơ sở hạ tầng ảo hóa một cách tổng thể.

Các thành phần trên VMM 2008 Client Layer liên lạc với VMM server nằm trong Engine Layer bằng cách sử dụng Windows Communication Foundation (WCF).

WCF là viết tắt cho Windows Communication Foundation.Đây là công nghệ mới nhất của Microsoft cho phép ứng dụng trong môi trường phân phối cho các giao tiếp với nhau.WCF là lập trình mô hình thống nhất của Microsoft cho việc xây dựng các ứng dụng dịch vụ theo định hướng. Nó cho phép các nhà phát triển để xây dựng an toàn, đáng tin cậy, giao dịch giải pháp tích hợp trên nền tảng và tương thích với các khoản đầu tư hiện có. WCF được xây dựng trên Microsoft NET Framework. Và đơn giản hóa việc phát triển hệ thống kết nối. Nó hợp nhất cho một loạt các hệ thống phân phối khả năng trong một kiến trúc composable mở rộng, hỗ trợ vận chuyển nhiều, tin nhắn hình, mã hóa, topo mạng, và các mô hình lưu trữ. Nó là phiên bản kế tiếp của một số sản phẩm hiện có-ASP.NET ‘s phương pháp web (ASMX) và Microsoft Cải tiến các dịch vụ Web (WSE) cho Microsoft NET,. NET Remoting., Doanh nghiệp dịch vụ, và System.Messaging.Mục đích của WCF là cung cấp một mô hình lập trình duy nhất có thể được sử dụng để tạo các dịch vụ trên nền tảng NET. Cho các tổ chức.

3. Lớp VMM 2008 Engine

Lớp này chủ yếu chứa hai thành phần chính là Virtual Machine Manager Server (VMM server) và SQL Server Database. Như các mô tả đã đế cập torng chương trước, VMM server là một thành phần nhân trung tâm của nền tảng VMM. Tất cả các thành phần khác muốn hoạt động liên lạc, trao đổi với các thành phần còn lại đều phải thông qua VMM Server. Thêm vào đó, VMM Server hoạt động như một VMM library Server mặc định và cung cung cấp một giao diện (interface) liên kết với SQL Server Databse nơi mà các thông tin cấu hình về hạ tầng ảo hóa đang được lưu trữ.

Một loạt các giao thức được sử dụng bởi VMM Server để giao tiếp với các thành phần khác nhau trong kiến trúc. Như đã được giới thiệu, WCF được sử dụng để giao tiếp với các thành phần trên lớp Client.

4. Lớp VMM 2008 Managed

Lớp VMM 2008 Managed chứa các đối tượng là máy chủ đang vận hành các máy ảo, các máy chủ tài nguyên P@V và VMM server Library. Các thành phần trong lớp này như Microsoft Virtual Server, các máy chủ Hyper-V và VMM library Server liên lạc thông qua giao thức WinRM. Còn quá trình vận chuyển giữa VMM server và các máy chủ tài nguyên P2V thì sử dụng Distributed Component Object Model (DCOM). Khi liên lạc với SQL Server thì công nghệ ADO.NET được sử dụng. Cuối cùng là khi quản lý các máy chủ Vmware EXS thì sử dụng HTTPS.

Distributed Component Object Model hoặc DCOM là một công nghệ độc quyền của Microsoft được sử dụng trong giao tiếp với các thành phần phần mềm trong mạng máy tính dựa. DCOM là một mở rộng của công nghệ COM của Microsoft và cung cấp các phương tiện thông tin cho các kiến trúc COM + server của Microsoft. Trong một môi trường phát triển phần mềm tùy chỉnh, COM có thể được dùng để tạo ra thành phần phần mềm tái sử dụng và các thành phần liên kết để xây dựng một ứng dụng phần mềm phân phối. DCOM đến một mức độ lớn hơn thành công trong việc giải quyết marshalling và thu gom rác thải vấn đề liên quan sử dụng DCE / RPC (Distributed Computing Môi trường / Remote Procedure Call).DCOM cung cấp các API để tạo ra các thành phần, mà có thể tích hợp các ứng dụng tùy chỉnh hoặc ứng dụng đa dạng có thể giao tiếp với nhau. Trong khi đó, COM DCOM giúp các đối tượng trong một máy tính để tương tự như các đối tượng COM trong một máy tính khác và truy cập các thủ tục được sử dụng. Trong DCOM cả hai đối tượng từ xa và địa phương được truy cập trong cùng một cách thức.Sử dụng DCOM có nhiều thuận lợi phục vụ dựa trên web phát triển phần mềm. Một trang web duy nhất có thể giao tiếp với các máy chủ web khác nhau (ngoài máy chủ web riêng của mình) cùng một lúc và phục vụ yêu cầu trình duyệt với các thông tin khác nhau. Ví dụ, bằng cách sử dụng DCOM, một cổng Tin tức có thể truy cập máy chủ web khác nhau trên toàn thế giới và thực hiện cuộc gọi thủ tục từ xa (RFC) để có được thông tin đa dạng cùng một lúc.

Microsoft cung cấp các giao diện DCOM cho dịch vụ ứng dụng khác nhau dựa trên Windows như Microsoft Active Directory (AD), Microsoft Message Queuing (MSMQ), Windows quản lý và Instrumentation (WMI)…

Công ty phát triển phần mềm thích DCOM vì nó có thể tận dụng các lưu lượng mạng và giao thức mạng mà không cần thực hiện các thông số mạng hoặc các kênh truyền thông khác sử dụng mạng. Ngoài ra, DCOM cung cấp bảo mật mạnh mẽ để ứng dụng phân tán mà không có bất kỳ mã hóa bảo mật liên quan đến hoặc thiết kế trong thành phần hoặc máy khách.

Trong việc cung cấp một bộ các dịch vụ phân phối, DCOM tương đương với CORBA (Common Object Request Broker Architecture) được sử dụng trong các môi trường không phải của Microsoft. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế phân phối mới để giao tiếp với nền tảng khác nhau trên Internet đã, trên thực tế được hưởng lợi của người sử dụng đến một mức độ lớn hơn. Ngoài ra, DCOM có thể được chuyển sang môi trường khác tiêu chuẩn, chẳng hạn như nền tảng UNIX là tốt.

ADO.NET là một phần của .NET Framework, nó được xem là “bộ thư viện lớp” chịu trách nhiệm xử lý dữ liệu trong ngôn ngữ MS.NET. ADO.NET được thiết kế với dạng dữ liệu “ngắt kết nối”, nghĩa là chúng ta có thể lấy cả một cấu trúc phức tạp của dữ liệu từ database, sau đó ngắt kết nối với database rồi mới thực hiện các thao tác cần thiết. Đây là một sự tiến bộ về mặt thiết kế bởi vì thiết kế ADO trước đây luôn cần duy trì một kết nối trong quá trình thao tác dữ liệu.

5. Các Port sử dụng VMM 2008

Như đã biết VMM 2008 là tập hợp gồm nhiều thành phần khác nhau và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình các thành phần này đều phải liên lạc với các thành phần khác hoặc các máy chủ chạy ứng dụng ảo hóa. Các liên lạc trao đổi này hoạt động dựa trên các port tiêu chuẩn cho quá trình vận chuyển thông tin qua lại. Bới vì các thành phần của VMM có thể triển khai ở mức độ phân tán trải dài ra nhiều máy chủ trong hệ thống, nên đòi hỏi sử hiểu biết căn bản port nào sẽ được sử dụng đặc biệt là trong trường hợp hạ tầng có sự xuất hiện của Firewall. Bảng sau đây cung cấp trực quan các port được sử dụng trong VMM 2008. Chú ý rằng đây chỉ là mặc định trong hệ thống có một số sẽ yêu cầu thay đổi trong quá trình triển khai cài đặt VMM 2008.

Mô tả Port
VMM Administrator Console đến VMM Server (WCF) 8100
VMM Administrator Console đến VMM Self-Service Portal (WCF) 80
VMM Server đến VMM Agent – Control (WinRM)) 80
VMM Server đến VMM Agent – Data (BITS) 443
VMM Server đến SQL Database (HTTP) 1433
VMM Server đến tài nguyên ảnh P2V(WinRM) 135
VMM Library đến các máy chủ (BITS) 80
VM Host đến VM Host (BITS) 80
Duyệt các máy chủ Microsoft Virtual Server thông qua Self-Service Portal (VMRC) 5900
Duyệt các máy chủ Microsoft Hyper-V thông qua Self-Service Portal (RDP) 3389
VMM Administrator Console đến System Center OpsMgr (HTTP) 80
Virtual Machine Connection Tool 2179
VMM đến VMware ESX VI Web Services API (HTTPS) 80
%d bloggers like this: